

Tư liệu được lấy trong quyển HƯƠNG KHÊ NGUYỄN THỊ GIA PHẢ được các cháu ngoại của cụ bà Ngô Thị Trang hàng năm về quê ngoại để viếng mộ cụ bà Ngô Thị Trang tại cổng chùa thôn Long Đầm xã nam Dương đã tặng cho ông Ngô Ngọc Cận .
Tôi là Ngô ngọc Đạt được xem cuốn gia phả này đã tổng hợp lại về chồng , con , cháu của cụ bà Ngô Thị Trang như sau.
Cụ bà Ngô Thị Trang con gái út của tiến sỹ Ngô Thế Vinh trong gia phả không ghi ró năm sinh… chỉ viết là lấy cụ cử nhân Nguyễn Giản
Cụ Nguyễn Giản ( 1824 – 1886) chồng cụ Ngô Thị Trang
Sinh năm 1824 tại huyện lỵ Thanh Hà, Hải Dương. Là con trai duy nhất của gia đình, con “ Cầu tự ” ( cầu :mong ước, tự,nối đời )
Năm 1848 , khoa thi hương Mậu Thân đỗ cử nhân
Làm huấn đạo huyện Thủy Đường, tỉnh Kiến An, nhờ có chiến công đánh tan bọn cướp , được thăng tri huyện Thủy Đường, rồi tri phủ Kinh Môn, Hải Dương. Sau thăng thượng tá Hải Dương, rồi thượng biên Thanh hóa ( Thượng tá thượng biên là quan chức cấp tỉnh trông coi về thương mại )
Cuối năm 1873, vua Tự Đức phong cụ làm “ Sơn Hải Phòng Than hoa Chánh sứ” để cầm quân chống lại bọn cướp cướp phá miền tây Thanh Hóa , giáp Lào
Giặc yện cụ về Kinh làm thị lang bộ lễ( Giúp việc cho Thượng thư)
Cuối cùng làm án sát hà Tĩnh ( Án sát trông coi về Tư pháp)
Về sáng tác cụ để lại nhiều thơ văn chũ Hán, về chữ Nôm còn lại hịch động viên binh lính, chép trong gia phả. Cụ còn dịch bài thơ Trường Hân ca của Bạch Cư Dị. Bản dịch được đánh giá cao.
Vào năm 1872 -1873 cụ lập lên các làng Dược Khê, Ái Liên, nay thuộc huyện Triệu Sơn ; làng Cán Khê thuộc huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa. Nhân dân làng trên lập điện thờ, tôn cụ làm thành hoàng ( là ông thần được thờ ở mỗi làng)
Về sau triều Nguyễn lập sắc phong thần
Cụ mất ngày 20 tháng 1 năm Binh Tuất ( 1886) tại Phương Khê thọ 62 tuổi )
Bà chánh thất Ngô Thị Trang con gái tiến sỹ Ngô Thế Vinh. Bà có 2 con trai là con cả Nguyễn Lợi Cảnh, con thứ 2 là Nguyễn Lợi Phổ và 1 con gái Nguyễn Thị Đoạn
Bà thứ thất Ngô Ngọc Trân, (gọi bà chính thất Ngô Thị Trang là cô ruột ) bà có 1 con trai là Nguyễn Lợi Cấp và 2 con gái
Ngoài ra ông còn có 2 bà vợ nữa.
Cụ Nguyễn Lợi Cảnh con trai đầu cụ Nguyễn Giản
Cụ là người thông minh học giỏi, nhưng lúc đó Pháp xâm chiếm nước ta, nên chán cảnh không đi thi. Cụ lập ra làng Lan Châu ( thuộc xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa làng có văn hóa thuần phong mỹ tục bậc nhất trong vùng. Dân làng nhớ ơn, thờ cụ làm thành hoàng, triều nguyễn có đạo sác phong thần. Cụ mất ngày 23 thàng 7 năm Giáp Thìn ( 1904)
Cụ có 2 vợ bà chính thất Nguyễn Thị Tuệ, là con gái thượng thư Nguyễn Thượng Phiên, là chị Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền ( Nguyễn Thượng Phiên hoàng giáp năm 1856 ) ( Nguyễn Thượng Hiền hoàng Giáp năm 1892)
Cụ có 3 con trai là Nguyễn Trinh Đàn và Nguyễn Trinh Bách
Nguyễn Trinh Đàn ( 1877 – 1954 ) đỗ tú tài khoa thi hương Canh Tý (1900)
Nguyễn Trinh Bách ( 1885- 1953) thi hương đỗ tam trường tham gia phong trào Đông kinh nghĩa Thục
Bà thứ thất Nguyễn Thị Tụ là em gái bà cả có 2 con trai là Nguyễn Trinh Tài, Nguyễn Trinh Cán,
Nguyễn Trinh Tài ( 1900 – 1954) sau cách mạng tháng 8 – 1945 làm chủ tịch ủy ban kháng chiến huyện Nông Cống
Nguyễn Trinh Cán, tróng cách mạng tháng 8 – 1945 làm chủ nhiệm việt Minh sau đó làm chủ tịch xã Lan Hương .
Cụ Nguyễn Lợi Phổ con thứ 2 cụ Nguyễn Giản
Bà chính thất; Lê Thị Bản, con cụ Lê Huy Tiến, cử nhân khoa thi hương Đinh Mão ( 1867) là chi ruột ông nghè Lê Khắc Doãn, tiến sỹ năm 1907
Ông Lê Khắc Doãn lại lấy bà Nguyễn Thị Tình, là con gái cụ Nguyễn Giản
Cụ có 2 người con trai là Nguyễn Trinh Xu, Nguyễn Trinh Thụ
Bà thứ thất có con trai là Nguyễn Trinh Côi
Nguyễn Trinh Xu ( 1892- 1951 ) đỗ tú tài khoa thi hương Nhâm Tý ( 1912) đỗ cử nhân khoa thi hương Mậu ngọ (1918) ông làm tri huyện Nghĩa Đàn, Can Lộc, sau đó làm chủ tịch mặt trận liên việt tỉnh Thanh Hóa
Nguyễn Trinh Thụ ( 1897 -1943) lúc nhỏ học chữ hán với cậu ruốt là tiến sỹ Lê Khắc Doãn ( tiến sỹ năm 1907) sau đó chuyển sang tân học và đõ bằng tiểu học pháp sau đó làm phiên dịch
Cụ Nguyễn Lợi Cấp con thứ 3 cụ Nguyễn Giản và bà thứ thất Ngô Thị Ngọc Trâm
Cử nhân khoa thi hương Đinh Dậu (1897)
Làm giáo thụ huyện Lệ Thủy , tỉnh Quảng Bình. Sau đó làm huấn đạo phủ Tĩnh Gia , Thanh hóa Cụ mất ngày 01-01 ât Hợi ( 1935) thọ 69 tuổi
Cụ là người đầu tiên dịch cuốn gia phả HƯƠNG KHÊ NGUYỄN THỊ GIA PHẢ ra chữ tiếng việt năm 1920
Cụ có 1 con trai là Nguyễn Trinh Vực và 4 con gái
Bà thứ thất Lê Thị Túc, là em gái cụ tú Lê Duy Tá cụ có 2 con trai là Nguyễn Trinh Cơ Nguyễn Trinh Tiếp
Nguyễn Trinh Vực ( 1906- 1988) con cả cụ Nguyễn Lợi Cấp
Lúc nhỏ học chữ hán sau chuyển sang Pháp học tốt nghiệp Thành Chung( là trung học đệ cấp nhất sau 10 năm học tập . Năm 1937 được giải thưởng dịch thơ ngụ ngôn cuat La Phông Ten
Nguyễn Trinh Cơ( 1913- 1985) là Giáo sư bác sỹ là con trai thữ 2 của bà 2 cụ Nguyễn Lợi cấp
Nguyễn Trinh Tiếp ( 1924- 1967) là kỹ sư là con trai thữ 3 của bà 2 cụ Nguyễn Lợi Cấp

